Hiện nay, người ta đã làm ra những bộ lịch có yếu tố trời đất từ ​​các tài liệu cổ. Năm, tháng, ngày, giờ đều được định sẵn và ghi rõ ràng trên lịch vạn niên. Nhiều người thường thắc mắc rằng ngày xưa ông cha ta còn chưa biết chữ, chưa biết đọc thì làm thế nào để xem lịch, tính ngày theo can chi? Có cách tính nào để phân biệt và đánh dấu chúng không?

Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn các bạn phương pháp tính năm, tháng, ngày, giờ chính xác và đầy đủ nhất. Mời quý độc giả cùng theo dõi!

1. Cách tính năm theo can chi.

Tính năm theo can chi

Trước hết, chúng ta phải hiểu hệ thống can chi bao gồm những gì. Hệ thiếc bao gồm 10 thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Hệ thống địa chi bao gồm 12 địa chi là 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi.

Phương pháp năm thiên can có thể áp dụng cho bất kỳ năm nào, nó đúng trong mọi trường hợp. Vậy làm thế nào để tính toán thiên can trong một năm? Kính mời quý độc giả cùng tham gia.

Như chúng ta đã biết, cứ sau 60 năm là kết thúc một chu kỳ thập lục phân. Ví dụ: Ta chọn 1960 là năm Tý, thì 1960 + 60 = 2020 sẽ lại là năm Tý. Các con số cuối cùng của năm dương lịch sẽ tương ứng với các thiên thể, cụ thể là:

  • Năm có thiên can Canh sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 0 (Ví dụ: 1960 – Canh Tý).
  • Năm có thiên can Tân sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 1 (Ví dụ: 1961 – Tân Sửu)
  • Năm có thiên can Nhâm sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 2 (Ví dụ: 1962 – Nhâm Dần).
  • Năm có thiên can là Quý sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 3 (Ví dụ: 1963 – Quý Mão).
  • Năm có thiên can là Giáp sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 4. Ví dụ: 1964 – Giáp Thìn).
  • Năm có thiên can là At sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 5 (Ví dụ: 1965 – Ất Tỵ).
  • Năm có thiên can là Bính sẽ có năm dương lịch kết thúc là 6 (Ví dụ: 1966 – Bính Ngọ).
  • Năm có thiên can Đinh sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 7 (Ví dụ: 1967 – Đinh Mùi).
  • Năm có thiên can Mậu sẽ có năm dương lịch kết thúc bằng 8 (Ví dụ: 1968 – Mậu Thân).
  • Năm có thiên can Kỷ sẽ có cuối năm dương lịch là 9 (ví dụ: 1960 – Dậu).

Từ đó chúng ta có một phương pháp tính toán dễ dàng. Lấy năm dương lịch cần tìm chia cho 60 thì còn lại bao nhiêu, tìm bảng dưới đây:

bảng chuyển đổi tháng 5 âm lịch sang năm dương lịch

Ví dụ:

  • Năm 1997: 60 = 33, còn lại 17. Xem bảng số 17 sẽ là năm Đinh Sửu
  • Năm 1789: 60 = 29, còn lại 49. Tìm bảng số 49 sẽ là năm Kỷ Dậu
  • Năm 2006: 60 = 33 còn lại 26. Xem bảng số 26 sẽ là năm Giáp Tuất

Cũng như các năm khác, chúng ta cùng tính toán và tra bảng theo công thức trên để tìm được năm âm lịch theo can chi.

Cách tính tháng âm lịch theo dương lịch.

Hướng của mỗi tháng (âm lịch) được cố định như sau:

  • Tháng giêng (tháng giêng) là con hổ
  • tháng hai là con thỏ
  • diễu hành là con rồng
  • Tháng tư là một con rắn
  • Tháng năm là con ngựa
  • tháng sáu là mùi
  • tháng bảy là vậy
  • tháng tám là con gà trống
  • tháng chín là con chó
  • Tháng mười là con heo
  • tháng mười một là con chuột
  • Tháp 12 (tháng 12) là Sửu

Địa chi của các tháng luôn giống nhau nên ta chỉ cần tìm thiên can cho tháng Giêng (tháng Giêng) của mỗi năm thì các tháng sau sẽ có thiên can kế tiếp.

Chu kỳ chi của mỗi tháng luôn là 6, chu kỳ thiên can của mỗi tháng luôn là 5, vì vậy 30 sẽ là bội số chung của 5 và 6. 30 tháng sẽ xen kẽ giữa 30 tháng dương và 30 tháng âm, sau đó một chu kỳ sẽ kết thúc. thời gian, tổng cộng là 60 tháng (cuối một chu kỳ lục giác) tương ứng với 5 năm. Cũng là trong 5 năm mà tử vi của các tháng được lặp lại.

Ví dụ: Tháng 5 năm 2020 (dương lịch) là tháng 4 âm lịch, tháng Quý Tỵ. Quay ngược lại 5 năm đúng vào tháng 5/2015 cũng là tháng Tỵ. Tua nhanh 5 năm, cũng đúng tháng 5 năm 2025 cũng là tháng Tân Tỵ.

Bảng chi phí hàng tháng và hàng năm

Vậy phương pháp tính toán như thế nào để tìm ra nhanh hơn. Chúng ta có thể lấy ví dụ về tháng Giêng của các năm làm ví dụ cụ thể:

  • Tháng Giêng trong năm nếu có thiên can Giáp, Kỷ (ví dụ năm Giáp Tý (1984), Kỷ Tỵ (1989)) thì tháng Giêng sẽ là tháng Giáp Dần.
  • Tháng Giêng trong năm nếu có thiên can Ất và Canh, thì tháng Giêng sẽ là tháng Dần.
  • Tháng Giêng trong năm, chỉ cần có thiên can Bính, Tân thì tháng Giêng sẽ là tháng Dần.
  • Tháng Giêng trong năm có thiên can Đinh, Nhâm thì tháng Giêng sẽ là tháng Dần.
  • Tháng Giêng trong năm, miễn là có âm lịch là tháng Mậu và tháng Tư, tháng Giêng sẽ là tháng Giáp Dần.

Nếu trong trường hợp là tháng nhuận thì tháng nhuận theo tháng mẹ không thay đổi.

3. phương pháp tính toán trong ngày

Can chi ngày: Can chi ngày được tính theo chu kỳ 60 (tức là khung sáu hoa rưỡi), độc lập, không phụ thuộc vào các yếu tố như tháng nhuận, năm nhuận.

Số ngày dương lịch trong mỗi tháng trong năm tuân theo những quy tắc nhất định nên việc xác định ngày vào thời điểm cố định nào rất dễ dàng và chính xác. Ta tuân theo quy tắc tính số ngày của dương lịch: năm thường có 365 ngày, năm nhuận có 366 ngày nên dễ dàng tính toán và suy luận.

Tuy nhiên, ngày âm lịch và ngày can chi có nhiều điểm chênh lệch nên khó xác định chính xác.

Việc tính toán ngày can chi sau đó quy đổi và suy ra ngày âm lịch rất phức tạp. Vì âm lịch thiếu tháng, thiếu tháng nhưng mỗi năm lại khác nhau (Ví dụ: theo âm lịch trong năm 19 có 7 tháng nhuận, nhưng có tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày. cụ thể là theo thứ tự nào.) thì việc tính toán các ngày theo lịch sẽ dễ dàng hơn.

Một năm dương lịch có 365 ngày, tức là có 6 chu kỳ lục bát cộng với 5 ngày. (Nếu đó là một năm nhuận 366 ngày, thì đó là 6 chu kỳ hex cộng với 6 ngày.

Nếu ngày 1 tháng 3 được chọn là ngày cố định, tất cả các ngày tiếp theo trong cùng năm với ngày 1 tháng 3 là ngày 30 tháng 4, ngày 29 tháng 6, ngày 28 tháng 8, ngày 27 tháng 10, ngày 26 tháng 12 và vào ngày 24 tháng 2 năm sau). Chúng tôi biết ngày nào là 3/1 (hoặc một trong bảy ngày 4/30, 6/29, 8/28, 10/27, 12/26, 2/24), vì vậy chúng tôi có thể dễ dàng tính ngày trước đó hoặc ngày nào. ? Ngày trễ hơn 7 ngày trước đó?

Nếu chúng ta muốn tính ngày của 1/3 năm sau hoặc của năm sau, chỉ cần thêm phần dư của 5 cho một năm có 365 ngày hoặc 6 cho một năm nhuận là 366 ngày là đủ.

Ví dụ: Nếu ngày 1 tháng 3 năm 1995 là ngày Tân Mão thì ngày 30 tháng 4 năm 1995, ngày 29 tháng 6 năm 1995, ngày 28 tháng 8 năm 1995, ngày 27 tháng 10 năm 1995, ngày 25 tháng 12 năm 1995 và ngày 24 tháng 2 năm 1996 là ngày Tết Dương lịch. .

Tương tự, chúng ta có thể suy ra 2 tháng 3 năm 1995, 1 tháng 5 năm 1995, 30 tháng 6 năm 1995, 29 tháng 8 năm 1995, 28 tháng 10 năm 1995, 26 tháng 12 năm 1995 và 25 tháng 2 năm 1995. 1996 Nhâm Thìn

Từ đó, chúng ta cũng có thể nhẩm rằng ngày 28 tháng 2 năm 1996 là ngày Bính Tý và ngày 29 tháng 2 năm 1996 là ngày Bính Thân. (Năm 1996 chia hết cho 4, tức là năm nhuận có ngày 29 tháng 2).

Như đã nói, ngày 1 tháng 3 năm 1995 là năm Tân Mão nên ngày 24 tháng 2 năm 1996 cũng là ngày Tân Mão bằng cách cộng thêm 6 ngày vào đó (vì năm 1996 là năm nhuận).

Chúng ta cũng có thể dễ dàng tính được ngày 1 tháng 3 năm 1996 là ngày Dậu, dựa theo cách tính trên thì Tân đến Đinh hoặc Mão đến Dậu là 6 ngày.

4. phương pháp tính toán của bạn

Tính toán giờ và ngày mỗi ngày

Thời gian cũng được xác định trước tại địa chỉ sau:

  • 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau là giờ chuột
  • 1-3 giờ là giờ bò
  • 3-5 giờ là giờ hổ
  • 5-7 giờ là thời gian của thỏ
  • 7-9 giờ là giờ Rồng
  • 9-11 là giờ của Xà tinh
  • 11-13 giờ là giờ Ngọ.
  • 13-15 giờ
  • 15-17 giờ là giờ khỉ
  • 17-19 giờ là giờ Kỷ Dậu.
  • 19-21 giờ là giờ Tuất.
  • 21-23 giờ là giờ heo

Nếu biết giờ Tý thì có thể biết được thiên can của các giờ khác theo thứ tự Giáp đến Quý theo đúng thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, không thay đổi. Đổi e đảo ngược quy tắc trên.

Hi vọng với những kiến ​​thức mà chúng tôi đã sưu tầm và tổng hợp trên đây sẽ giúp ích cho các bạn đọc biết cách tính năm, tháng, ngày, giờ theo can chi nhanh chóng và chính xác nhất. Bạn đọc cũng đừng quên cập nhật liên tục website của chúng tôi để có thêm nhiều kiến ​​thức phong thủy và tâm linh thú vị nhé!

#Phương #pháp #tính #năm #tháng #ngày #giờ #theo #chi #chính #xác #nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.