Bản đồ Đà Lạt sẽ giúp khách du lịch dễ dàng tìm hiểu đường đi trong thành phố với công nghệ Gps nổi tiếng. Dưới đây là bản đồ chi tiết giúp bạn tất cả trên lộ trình du lịch Đà Lạt.

Bản đồ du lịch Đà Lạt năm 2022

Địa chỉ đồi chè Cầu Đất

Địa chỉ Prenn.Pass

Hướng đi Hồ Tuyền Lâm

Địa chỉ ở trung tâm thành phố Đà Lạt

Hướng đến Suối vàng

Hướng đến Suối vàng

Hướng đèo Tà Nung

Đến Thung lũng tình yêu

Bản đồ quy hoạch tổng thể Đà Lạt

Được biết, thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên Tây Nguyên, thành phố Đà Lạt được chia thành 12 huyện và 4 xã trực thuộc UBND thành phố tọa lạc tại số 3 đường Trần Hưng Đạo, phía trước của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồn

Bản đồ Quy hoạch Hành chính Thành phố Đà Lạt cập nhật năm 2020
Bản Đồ Quy Hoạch Hành Chính Thành Phố Đà Lạt (Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ)

Thành phố Đà Lạt có cơ sở hạ tầng sau:

Sân bay Liên Khương cách trung tâm thành phố Đà Lạt 28 km về phía nam, nằm ngoài quốc lộ 20, thuộc thành phố Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng.

Tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt được xây dựng từ năm 1903 đến năm 1928, đến năm 1932 toàn tuyến bắt đầu hoạt động.

Từ năm 1932 đến năm 1938, tuyến Tháp Chàm – Đà Lạt được xây dựng gồm 3 đoạn từ Sông Pha đến Đà Lạt, tổng chiều dài gần 16 km. Điểm cuối của tuyến đường sắt này là ga Đà Lạt.

Tuyến đường sắt Tháp Chàm – Đà Lạt được sử dụng đến năm 1972, khi chiến tranh Việt Nam trở nên ác liệt, tuyến đường này buộc phải ngừng hoạt động.

Từ năm 1991, TP Đà Lạt đã khôi phục 7 km đường sắt Đà Lạt – Trại Mát, kết hợp với ga Đà Lạt để phục vụ du lịch. Nó đã trở thành một trong những điểm thu hút khách du lịch nhất thành phố hiện nay.

Thành phố Đà Lạt mục tiêu đến năm 2030?

Mục tiêu đến năm 2030, Đà Lạt và vùng phụ cận trở thành đô thị hiện đại đẳng cấp quốc tế với các đặc điểm về khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, lịch sử và di sản kiến ​​trúc quốc gia có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Dự báo đến năm 2020, khu đô thị này có khoảng 650.000 người và đến năm 2030 sẽ tăng lên khoảng 750.000 người.

Thông tin cơ bản về thành phố Đà Lạt

Cao nguyên Lâm Viên từ lâu đã là nơi sinh sống của người Lạch, Chil và Srê thuộc các dân tộc Cơ Ho. Vào cuối thế kỷ 19, nhiều nhà thám hiểm người Pháp đã vào vùng đất này. Những người tiên phong trong số đó là bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert Septans với một cuộc thám hiểm được thực hiện vào đầu năm 1881.

Năm 1893, dưới sự ủy quyền của Toàn quyền Jean-Marie de Lanessan, Tiến sĩ Alexandre Yersin đã tiến hành khảo sát địa hình một con đường từ Sài Gòn băng qua đất của người Thượng và kết thúc tại một điểm trên bờ biển miền Trung Việt Nam. . Ngày 21 tháng 6 năm 1893, trong một chuyến thám hiểm, Alexandre Yersin đã đến được cao nguyên Lâm Viên.

Năm 1897, khi đang tìm địa điểm xây dựng trạm nghỉ mát (station balnéaire d’altitude) cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã gửi thư cho Alexandre Yersin để xin ý kiến. Khi nhận được thư của Paul Doumer, Alexandre Yersin đã gợi ý chọn Cao nguyên Lâm Viên, một địa thế lý tưởng, hội tụ đầy đủ các điều kiện: độ cao phù hợp, diện tích đủ rộng, nguồn nước đảm bảo, khí hậu ôn hòa và có thể làm đường giao thông. Tháng 3 năm 1899, đích thân Paul Doumer và Alexandre Yersin đi thị sát thực địa trên cao nguyên Lâm Viên.

Dự án xây dựng Đà Lạt bị gián đoạn khi Toàn quyền Paul Doumer trở lại Pháp vào năm 1902 và Toàn quyền Paul Beau, người kế nhiệm ông, không nhiệt tình với việc xây dựng một ngôi làng trên núi. Tuy nhiên, trong thời gian sau đó, nhiều đoàn kiểm tra vẫn được cử lên Cao nguyên Lâm Viên để nghiên cứu, các tuyến giao thông lên Đà Lạt dần được hình thành. Vào giữa những năm 1910, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ đồng nghĩa với việc nhiều người Pháp không thể trở về quê hương để nghỉ dưỡng, và Đà Lạt dần trở thành nơi họ tìm đến để tìm lại chút khí chất của nước Pháp.

Ngày 20 tháng 4 năm 1916, Hội đồng phụ chính vua Duy Tân tuyên bố thành lập thành phố Đà Lạt. Toàn quyền Maurice Long đã tiến một bước xa hơn khi bổ nhiệm Ernest Hébrard làm Chủ Quy hoạch Thành phố Đà Lạt. Hébrard là người chủ trương sử dụng kiến ​​trúc cổ điển Châu Âu nhưng thêm thắt một số yếu tố trang trí từ mỹ thuật Việt Nam để tạo nên phong cách riêng mà ông gọi là kiến ​​trúc Đông Dương. Hébrard đã thực hiện phong cách kiến ​​trúc này ở các tòa nhà khác như tòa nhà của Viện Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội. Giờ đây, kiến ​​trúc này được áp dụng với quy mô lớn hơn tại Đà Lạt.

Điều đặc biệt là Hébrard đã vẽ ra một công trình có vườn hoa, khuôn viên, sân vận động và biệt thự nhưng hoàn toàn không có nhà máy để giữ nguyên vẹn không gian mát mẻ và tĩnh lặng của thành phố này.[36] Trong ba mươi năm, từ một nơi hoang vắng, một thành phố với hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở và dinh thự đã được hình thành. Trên tổng diện tích 1760 ha, chính phủ cung cấp 500 ha cho các cơ sở công cộng, 185 ha cho nhà quân sự, 173 ha cho công chức và 206 cho người bản địa. Phần còn lại (không phải 700 ha) đã được bán cho người Pháp.

Những năm 1940, Đà Lạt bước vào thời kỳ cao điểm của thời Pháp thuộc, là “thủ phủ mùa hè” của toàn Liên bang Đông Dương. Trong những năm chiến tranh, thành phố vẫn đóng vai trò là trung tâm du lịch và trung tâm khoa học giáo dục của Việt Nam Cộng hòa. Dưới thời Ngô Đình Diệm tổng thống, nhiều trường học, trung tâm văn hóa và các công trình kiến ​​trúc tiếp tục được thành lập. Đà Lạt cũng là nơi tập trung nhiều người nhập cư từ miền bắc vào. Nhưng từ năm 1964, khi chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, việc phát triển đô thị ít được coi trọng, thay vào đó là sự xuất hiện của các công trình phục vụ mục đích quân sự.

Sau chiến tranh, Đà Lạt tiếp tục bước vào giai đoạn khó khăn bởi vấn đề lương thực, thực phẩm nên công cuộc xây dựng và phát triển thành phố không còn được chú trọng. Việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan, môi trường tự nhiên của thành phố.

Du lịch Đà Lạt thời kỳ này cũng trầm lắng do khó khăn chung của nền kinh tế Việt Nam. Từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, thành phố dần phát triển trở lại với lượng khách du lịch ngày càng đông và hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư xây dựng.

Sau năm 1975, Thành phố Đà Lạt có 6 quận (đánh số từ 1 đến 6) và 3 xã: Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường. Ngày 6 tháng 6 năm 1986, giải thể 6 quận hiện có và thay thế bằng 12 quận mới (đánh số từ 1-12).

Ngày 6 tháng 3 năm 2009, Xuân Trường được chia thành 2 xã: Xuân Trường và Trạm Hành.

Ngày 24 tháng 7 năm 1999, Đà Lạt được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại II và ngày 23 tháng 3 năm 2009, Đà Lạt chính thức trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.

#Bản #đồ #Đà #Lạt #khổ #lớn #phóng #năm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.